Các học giả Mỹ tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (Center for Strategic and International Studies – CSIS) vừa lên tiếng kêu gọi Bộ Quốc phòng Mỹ đưa thêm tàu chiến đến vùng Thái Bình Dương để đối phó với thái độ ngày càng quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông. Qua một bản báo cáo vừa công bố, các chuyên gia thuộc Trung tâm tham vấn này cho rằng, Washington cần phải xác định tốt hơn Chiến lược của mình để đối phó với thế lực đang lên của Trung Quốc.
Sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama loan báo Chiến lược “tái cân bằng” lực lượng Quân sự Mỹ tại vùng châu Á – Thái Bình Dương, hồi tháng Giêng vừa qua, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu Lầu Năm Góc phải có một đánh giá độc lập về chính sách châu Á mới của Mỹ. Bản báo cáo do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế là để đáp ứng yêu cầu này.
Trong bản báo cáo, CSIS cho rằng, Hoa Kỳ nên triển khai một Nhóm tàu đổ bộ (Amphibious Ready Group) thứ hai từ vùng Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương, theo như yêu cầu của Lực lượng Thủy quân lục chiến Mỹ. Bản báo cáo cũng kêu gọi cho đồn trú thêm ít nhất là một tàu ngầm nguyên tử tấn công khác tại đảo Guam, căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Bình Dương gần Philippines.
Các tác giả Bản báo cáo nhận định rằng, quân đội Mỹ còn đặt quá nhiều trọng tâm vào vùng Đông Bắc Á, Hàn Quốc và Nhật Bản, để tập trung đối phó với các mối đe dọa trên bán đảo Triều Tiên và tại eo biển Đài Loan. Thế nhưng theo họ, cái nhìn đó có phần chưa chính xác. Báo cáo viết : “Như đã được chứng minh qua những hành động mới đây của Trung Quốc tại vùng Biển Đông, và trên khắp các hòn đảo ở Thái Bình Dương, các vấn đề an nguy phát triển nhanh nhất ở khu vực Nam và Đông Nam Á. Để thành công, Chiến lược tái cân bằng lực lượng của Mỹ cần được thúc đẩy nhiều hơn tại những vùng này”.
Bản báo cáo cũng phê phán Bộ Quốc phòng là chưa làm rõ được Chiến lược mà họ đã dựa theo đó để thực hiện kế hoạch chuyển quân, cũng như chưa cho thấy mối quan tâm đến việc ngân sách quốc phòng bị cắt giảm. Các tác giả đặt ra câu hỏi là, liệu Lầu Năm Góc đã có chuẩn bị đầy đủ hay chưa để giải trình về sự cần thiết của việc tăng cường lực lượng ở Thái Bình Dương, vào lúc phải đối mặt với việc 1 nghìn tỷ USD sẽ bị cắt giảm trong thập kỷ tới.
Ông John Hamre, Chủ tịch và Giám đốc điều hành của Trung tâm CSIS cho rằng một chiến lược châu Á rõ ràng cũng cần thiết như “chính sách quốc phòng rất nhất quán” đã từng định hướng cho Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh trước đây. Trong một bức thư gửi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta, đính kèm theo Bản báo cáo, ông Hamre xác định : “Lúc này chúng ta cần một khung hành động tương tự cho châu Á trong 30 năm tới đây”.
Bộ trưởng Quốc phòng Panetta đã hoan nghênh Bản báo cáo của CSIS, cho rằng Bộ của ông và Nhóm nghiên cứu đều có chung một lập trường ” trên việc thấu hiểu những thách thức và cơ hội đối với nhu cầu phát huy lợi ích của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương”.
Từ năm 2010, trong chiều hướng tăng cường trở lại sự hiện diện tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đã từng tuyên bố việc bảo đảm tự do lưu thông hàng hải và duy trì Hoà Bình, ổn định ở vùng Biển Đông là vấn đề “quyền lợi quốc gia đối với Mỹ”. Không chỉ củng cố quan hệ quân sự với các nước trong khu vực, Washington còn mạnh mẽ ủng hộ nỗ lực của ASEAN thương lượng đa phương với Trung Quốc và soạn thảo Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Gần đây, trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông ngày càng gia tăng, với việc Trung Quốc liên tục có những hành động nhằm xác quyết chủ quyền trên Biển Đông, mà gần đây nhất là quyết định triển khai một đơn vị đồn trú ở “thành phố Tam Sa” do họ thành lập vào tháng trước, với phạm vi quản lý bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, các học giả và các chính trị gia Mỹ quan tâm đến chính sách châu Á đã nhanh chóng phản ứng. Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain xem đó là một hành động mang tính khiêu khích và càng cho thấy là Trung Quốc muốn thông qua hù dọa và ép buộc để áp đặt đòi hỏi chủ quyền của họ trên Biển Đông. Thượng nghị sĩ Jim Webb tuyên bố, mưu toan của Bắc Kinh nhằm xác quyết chủ quyền trên các đảo đang tranh chấp có thể được xem là một sự vi phạm luật pháp quốc tế và rất đáng lo ngại.
Thanh Minh
(DDK)
(DDK)
No comments:
Post a Comment